Phát hiện sự cố máy biến áp phân phối và nâng cao hiệu quả kinh doanh

Nếu thùng dầu bị hỏng ngay trước khi cầu chảy tác động thì hậu quả đối với MBA có thể chỉ ở mức độ nhất định. Tuy nhiên, các sự cố thường không gây nên hư hỏng nặng trước lần tác động đầu tiên của cầu chảy. Tình huống nặng nề thường xảy ra khi CNVH đóng điện trở lại những máy đã bị sự cố bên trong mà không biết. Trường hợp này có thể đặt người CNVH vào tình huống nguy hiểm.

Vinamain.com

Máy biến áp

Sự cố bên trong MBA phát triển dần tới ngưỡng cầu chảy tác động, nhưng ngoài hiện tượng cầu chảy tác động, có thể không có một tín hiệu tường minh nào khác thể hiện ra bên ngoài để báo rằng MBA đã bị sự cố. Nhiều khi không thể biết rõ liệu MBA đã bị sự cố thật chưa, hay cầu chảy đã tác động vì một nguyên nhân nào khác, cho dù đã kiểm tra rất kỹ lưỡng phía bên ngoài MBA.

Trong tình huống này, thường thì tổ CNVH sẽ tra lại dây chảy và đóng lại MBA vào lưới. Mặc dù nhiều công ty điện lực yêu cầu các tổ CNVH phải tiến hành kiểm tra MBA trước khi đóng điện lại, nhưng thường thì việc này bị bỏ qua khi họ thấy rằng nhìn bề ngoài máy không thấy gì đáng nghi ngờ. Điều này có thể hiểu được vì hầu hết các lần cầu chảy tác động đều thường được gán cho là do xung sét, do quá tải ngắn hạn, do chọn hoặc lắp cầu chảy không đúng, hoặc do trục trặc ở mạch thứ cấp.

Đáng tiếc là, nếu như thực sự đã có một sự cố đang phát triển bên trong MBA thì điều này sẽ hình thành các điều kiện để dẫn đến một sự cố trầm trọng, và đặt tổ CNVH vào tình thế hiểm nghèo khi đóng lại cầu chảy cho MBA. Thực tế diễn ra qua nhiều năm đã chứng minh đây không phải là sự giả định mà đã từng xảy ra nhiều thương vong, thậm chí cả tử vong do tình huống tương tự gây ra. Hầu như bất kỳ tổ CNVH nào nếu đã từng có ít nhất mười năm trải nghiệm với nghề thì đều có thể kể lại chí ít là một lần suýt xảy ra tai nạn trong các tình huống tương tự.

Hầu hết các công ty điện lực đều đã có quy trình vận hành nhằm giảm bớt rủi ro này. Một số công ty yêu cầu phải cách ly MBA ra và thực hiện kiểm tra tỷ số biến đổi điện áp giữa các cuộn dây. Điều này đòi hỏi phải leo lên cột, cắt điện tách MBA ra, thử nghiệm MBA, khi các công đoạn hoàn thành thì mới đóng lại MBA vào lưới; rõ ràng quá trình này tiêu tốn nhiều thời gian. Đây là một cách làm cẩn trọng, đáng được khuyến khích. Tuy nhiên, thường thì nó lại không được tiến hành xuôn xẻ như vậy, vì tổ CNVH luôn bị áp lực phải mau chóng phục hồi việc cấp điện, nhất là trong trường hợp thời tiết quá xấu khiến rất nhiều hộ phụ tải bị mất điện đồng thời.

Một số công ty có thể dựa vào việc kiểm tra MBA bằng mắt, kết hợp với những biện pháp phòng ngừa đặc biệt do chính người CNVH thực hiện nhằm giảm xuống mức thấp nhất khả năng cơ thể họ phải phải chịu ảnh hưởng nếu chẳng may xảy ra sự cố nguy hiểm. Cũng có một số CNVH kéo vòng trên cơ cấu xả áp để xem liệu có phát hiện được mùi cháy báo hiệu sự cố hay không. Lưu ý rằng khi trời lạnh, nếu MBA đã có đủ thời gian lạnh dần thì cách làm này ít có tác dụng. Do đó, việc kéo vành chắn này chỉ khiến cơ cấu xả áp hút không khí lạnh vào, còn mùi thì không thoát ra được. Thủ thuật này cũng không đáng tin cậy nếu hiện tượng cháy dầu chỉ ở mức hạn chế. Hơn nữa, để không khí ẩm lạnh thâm nhập vào thùng dầu sẽ gây hại cho MBA. Hơi ẩm là kẻ thù của cách điện giấy và là yếu tố quan trọng gây lão hóa MBA.

Bão kèm theo sét là ví dụ rõ nhất về sự quy tụ rất nhiều yếu tố liên quan gây rủi ro sự cố lớn đối với MBA. Khi một cơn bão có sét hoạt động mạnh, chỉ trong vài tiếng đồng hồ, nguời ta có thể thống kê được hàng ngàn cầu chảy tác động trong một khu vực nhất định. Hậu quả của nó gây áp lực rất lớn đối với các tổ CNVH trong việc phục hồi cung cấp điện. Ham muốn khắc phục sự cố nhanh chóng bằng cách đơn giản là tra ngay lại dây chảy rồi đóng lại MBA vào lưới là phổ biến. Chính lúc đó, nếu như cú sét trước đã gây nên các sự cố trong MBA rồi thì việc đóng điện lại cho máy vào lưới lần này sẽ có thể dẫn đến các phá hủy nặng nề hơn. Trong những tình huống như vậy, tổ CNVH cần đến mọi sự hỗ trợ có thể có được.

BỘ PHÁT HIỆN SỰ CỐ BÊN TRONG KIỂU LẮP LIỀN

Trước đây, tất cả các phương pháp phát hiện sự cố bên trong đều dựa trên các phép đo gián tiếp. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là công nghệ thử nghiệm ngoài lưới điện, tương đối phức tạp và tốn kém thời gian khi CNVH phải thao tác trên cột. Ngành điện cần có một phương pháp mới để nhận diện “trực tiếp” sự cố bên trong MBA và đánh dấu tín hiệu sự cố MBA bên ngoài vỏ máy, nhờ đó CNVH có thể dễ dàng phát hiện.

Vào những năm 70, khi các công ty điện lực chuyển sang sử dụng điện áp phân phối cao hơn thì dòng sự cố kỳ vọng cũng tăng lên. Việc tăng cao mức năng lượng sự cố kỳ vọng đã khiến hầu hết các công ty phải trải qua giai đoạn khó khăn do số lần sự cố MBA trầm trọng cũng tăng lên. Đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành nhằm lý giải bản chất vật lý của hiện tượng này. Kết quả nghiên cứu cũng đã nhanh chóng phát hiện thủ phạm chính, đó là cơ chế sinh khí trong dầu MBA.

Công trình đầu tiên về công nghệ phát hiện sự cố trong MBA được thực hiện vào cuối những năm 80 thế kỷ trước khi các kỹ sư đang tiến hành thử nghiệm khả năng chịu đựng của MBA. Thử nghiệm cho thấy các sự cố trong MBA đều tạo ra những tín hiệu áp lực đặc biệt. Mọi thay đổi áp suất khác trong khoang chứa không khí của MBA đều diễn ra với tốc độ chậm hơn trên 1000 lần so với khi có độ tăng vọt áp suất do các sự cố bên trong MBA có kèm theo hồ quang gây nên. Do đó, tốc độ tăng áp suất có thể sử dụng để nhận biết một cách tin cậy sự xuất hiện sự cố phát sinh hồ quang trong MBA.

BỘ PHÁT HIỆN SỰ CỐ BÊN TRONG MBA

Có một phương pháp phát hiện sự cố bên trong là đo độ chênh áp suất qua một màng dẻo để kích hoạt cơ cấu báo tín hiệu sự cố. Nguyên lý này được thực hiện nhờ một cơ cấu gọi là bộ phát hiện sự cố bên trong MBA (internal fault detector – IFD) do công ty IFD thiết kế. Bộ IFD đã trải qua quá trình phát triển trên một thập kỷ, là kết quả hợp tác nghiên cứu triển khai công nghệ cùng với sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của nhiều công ty điện lực. Các mục tiêu của bộ IFD là nâng cao năng suất lao động của CNVH, cải thiện dịch vụ khách hàng và nâng cao độ an toàn cho CNVH khi giải quyết sự cố MBA.

Bộ IFD chỉ phản ứng với các sự cố bên trong MBA. Do tính chất thuần túy cơ học nên nó tỏ ra có ưu thế vượt trội so với các thiết bị cảm nhận khác. Phần tử cảm biến là một màng chuyên dùng, chỉ nhạy cảm với tốc độ tăng áp suất cao trong không khí bên trên dầu. Tăng áp suất nhanh chỉ diễn ra khi xuất hiện sự cố bên trong MBA. Khi phản ứng với sự tăng áp suất nhanh, màng di chuyển, nó giải phóng một chiếc lò xo đã bị nén căng sẵn làm bật ra một con bài ở bên ngoài của vỏ MBA. Thiết kế của IFD không yêu cầu có sự dung hoà giữa độ nhạy và tính chọn lọc như vẫn thấy ở các thiết bị nhạy cảm với nhiệt và quá dòng điện hoặc dạng sóng.

Để tác động, bộ IFD không đòi hỏi cung cấp năng lượng, không nhạy cảm với môi trường điện và không phụ thuộc vào tình trạng điện của MBA. IFD không phản ứng với điện trường và từ trường, thậm chí nó cũng không phản ứng với sự thay đổi nhiệt độ (trong phạm vi thiết kế MBA). Trong môi trường mà hầu hết các thiết bị điện tử dễ dàng bị phá hủy, nó vẫn hoạt động tin cậy.

Điều đáng lưu ý là, do bộ IFD có thiết kế và cấu tạo đơn giản nên việc chế tạo và lắp đặt chúng vào các MBA phân phối sẽ đạt hiệu quả kinh tế, nhất là với những nơi có nhiều MBA phân phối thì đơn giá là yếu tố lựa chọn quan trọng đối với các công ty điện lực.

Bộ IFD cũng bao gồm cả cơ cấu xả áp tĩnh (pressure relief device – PRD), tác động giống như một bộ PRD tiêu chuẩn. Một số khách hàng đã yêu cầu gộp chức năng này vào trong bộ IFD để đỡ phải đục thêm một lỗ khác nữa trên thùng dầu MBA. Điều này cũng góp phần làm giảm chi phí tổng cho thùng dầu vỏ máy hiện nay vì sẽ bỏ bớt được vấu hàn trên thùng như vẫn có trên hầu hết các MBA chuẩn khác. Có thể dễ dàng lắp thêm vào bộ IFD vào một MBA bình thường, chỉ cần đột thêm một lỗ là có thể lắp đặt. Ưu điểm này giúp các công ty dễ dàng trang bị bổ sung các bộ IFD vào các MBA đang sử dụng mỗi khi chúng được vận chuyển về xưởng, tân trang hoặc tu sửa. Hình 1 và 2 mô tả mặt cắt ngang và phương thức hoạt động của bộ IFD.

Không thể phục hồi bộ IFD từ bên ngoài MBA. Điều này đảm bảo không cho phép phục hồi bộ IFD lắp trên một MBA đã bị sự cố, tránh được trường hợp đóng điện trở lại khi máy chưa được tách ra khỏi lưới và khám tại xưởng.

Bộ IFD cũng được thiết kế nhằm giảm thiểu các trường hợp “tác động sai” trong các điều kiện khác, không phải sự cố, ví dụ như khi chịu sóc cơ khí đôi khi xảy ra đối với các MBA trong quá trình vận chuyển hoặc lắp ráp. Để tránh hiện tượng này, IFD được lắp thêm một loại khóa bằng chất dẻo chỉ dùng khi vận chuyển. Khi MBA đã được lắp lên cột thì khóa này được tháo ra rất dễ dàng. Khóa vận chuyển này hình răng cưa và màu da cam tươi, vì vậy, nếu vì lý do nào đó mà vô ý không tháo ra thì CNVH sẽ dễ dàng phát hiện.

GIÁ TRỊ CỦA CÔNG NGHỆ NÀY ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TY ĐIỆN LỰC

Đối với các công ty điện lực, yêu cầu không ngừng giảm giá thành, nâng cao tính năng và chất lượng dịch vụ giờ đây là những thách thức lớn hơn bao giờ hết. Những thách thức này càng thêm căng thẳng thêm vì các lực lượng trong ngành điện liên tục chuyển biến, trong khi đó để thay đổi đòi hỏi phải có nhiều thời gian. Hệ thống phân phối điện phải kết hợp hài hòa cả công nghệ mới và công nghệ cũ để tiến hoá mà vẫn đạt hiệu quả về chi phí. Xét về chiến lược, các công ty phải cân nhắc giá trị của các giải pháp kỹ thuật trên suốt thời kỳ tuổi thọ của hệ thống, ở đó, những lực lượng chính bao gồm cả sự thay đổi kinh nghiệm và kỹ năng của CNVH, là động lực để cắt giảm chi phí và cải thiện chất lượng dịch vụ. Và điều quan trọng trong nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của công ty là phải đảm bảo tính an toàn cao.
Vinamain.com
Kết quả các cân nhắc này có ý nghĩa quyết định trong quá trình tìm kiếm công cụ phát hiện sự cố bên trong MBA nhằm đáp ứng yêu cầu về giá thành thấp, đơn giản và tin cậy. Cuối cùng, nó góp phần hỗ trợ hoạt động xử lý sự cố với phương châm “làm đúng ngay từ lần đầu tiên”.

Cơ cấu IFD sẽ mang lại lợi nhuận cho các công ty trong các lĩnh vực sau:

TIẾT KIỆM CHI PHÍ PHỤC HỒI CUNG CẤP ĐIỆN NHỜ NÂNG CAO HIỆU SUẤT LAO ĐỘNG

Trên 20 % chi phí để đảm bảo cung cấp điện an toàn là trả công lao động. Do đó, đầu tư vào khâu sử dụng lao động sẽ góp phần giảm được chi phí chung.

Lợi ích rõ ràng nhất của bộ IFD chính là ở chỗ nó giúp người CNVH nhanh chóng chỉ ra được cụ thể những MBA nào đã bị sự cố bên trong.

Lợi ích này sẽ thay đổi theo từng công ty, tùy thuộc vào khả năng thực tế của họ khi xử lý sự cố mất điện. Sau đây là một vài ví dụ minh họa:

PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG MỘT TỔ CNVH GỒM HAI NGƯỜI

Trong ví dụ này, một tổ gồm hai CNVH sử dụng xe chuyên dùng có trang bị cần cẩu và gầu nâng, hoặc dùng cơ cấu đặc biệt treo trên không để thao tác cùng với những vật liệu cần thiết, tiến hành khảo sát nguyên nhân mất điện. Tổ CNVH này có thể được điều đến từ chi nhánh điện địa phương hoặc từ Trung tâm điều hành khu vực. Đơn giá theo giờ trả cho tổ hợp lao động này rất cao, bao gồm hai CNVH lành nghề cùng với các trang thiết bị làm việc đắt tiền, và thường là phải tính theo đơn giá làm việc ngoài giờ.

Cho dù cách sắp xếp bố trí một tổ hợp lao động như vậy xem ra đã có vẻ hoành tráng, vậy mà hầu hết các vụ mất điện đã được xử lý đều không thể bỏ qua bước kiểm tra, lắp lại dây chảy và đóng điện trở lại. Nếu công ty tuân thủ nghiêm túc theo quy trình vận hành là “phải kiểm tra trước khi đóng điện” thì tổ CNVH này sẽ phải tốn khá nhiều thời gian, từ việc tách MBA khỏi lưới, đến thí nghiệm kiểm tra rồi mới đấu nối lại vào lưới MBA không còn sự cố bên trong.
Vinamain.com
Bây giờ chúng ta hãy cân nhắc những hoạt động tương tự đối với các MBA được trang bị bộ IFD. Nếu MBA này thực sự đã bị sự cố thì tổ CNVH hoàn toàn có thể biết ngay được bằng cách nhìn vào bộ IFD. Nếu bộ IFD không tác động thì tổ CNVH sẽ tiếp tục các công việc khác một cách bình thường theo đúng quy trình kỹ thuật, chỉ cần chú ý đảm bảo an toàn. Còn nếu bộ IFD đã tác động thì họ có thể điều ngay một MBA mới, thậm chí chẳng cần bước ra khỏi xe tải.

Trong trường hợp này, do chưa thao tác xe chuyên dùng để dâng cao cần cẩu hoặc chưa lắp bộ dầm chìa sẵn sàng, tổ CNVH có thể khẩn trương tiếp tục đi phục vụ cho một cuộc gọi sự cố khác. Các CNVH cũng có thể hoặc quay trở lại nơi mà MBA mới được đưa tới, hoặc để luôn công việc đó cho người đã mang MBA mới tới. Néu may mắn, họ có thể có cả các phụ tùng thích hợp ngay trên xe tải chuyên dùng này.

Hầu hết các công ty điện lực khi cân nhắc kịch bản này đều tin rằng các bộ IFD sẽ tiết kiệm trung bình được tối thiểu là nửa giờ.

PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG TỔ CNVH GỒM HAI NGƯỜI KHI CÓ BÃO

Các mức tiết kiệm chi phí sẽ tăng cao nếu chúng ta cùng sử dụng ví dụ tương tự như trên, chỉ mở rộng hơn cho mang tính điển hình, tức là cần phục hồi cung cấp điện do bão gây nên.

Như trên đã đề cập, khoảng 30% số lần mất điện xảy ra khi có bão. Hơn nữa, hầu hết các trận bão cũng diễn ra sau giờ làm việc bình thường. Trong tình huống này, hầu hết các tổ CNVH đều được huy động vào việc phục hồi cung cấp điện. Nếu công ty có thể tiết kiệm nửa giờ trong việc xác định một trục trặc nào đó đang tiềm ẩn trong một MBA thì các tiết kiệm chi phí tổng cộng sẽ tăng rất nhanh.

Để minh họa, hãy xem ví dụ về cơn bão sau:

Những khoản tiết kiệm về thời gian và tiền bạc ở đây liên quan đến hai tổ CNVH trở lên.

Nếu các tổ CNVH xử lý sự cố đạt năng suất cao hơn thì công ty có thể trì hoãn hoặc thôi không cần điều động bổ sung thêm tổ khác đến. Vì thế, việc cải thiện hiệu quả làm việc của tổ CNVH đầu tiên sẽ đem lại hiệu quả rất đáng kể trong tổng các khoản tiết kiệm được.

TÌNH HUỐNG NGUY KỊCH

Trong ví dụ này, một tổ hai CNVH sử dụng xe cẩu chuyên dùng có gầu nâng để khảo sát nguyên nhân mất điện. Chưa biết MBA có bị sự cố bên trong hay không. Cũng không có dấu hiệu hư hỏng nào thể hiện ra bên ngoài vỏ máy. Nhưng khi CNVH đóng lại MBA vào đường dây thì lập tức xảy ra sự cố trầm trọng. Một hay cả hai CNVH bị thương và có thể phải nghỉ việc khá lâu. Một số tài sản khác bị hư hỏng và công việc sửa chữa là khá nhiều.

Các chi phí cho hậu quả này bao gồm: Tốn kém thời gian cho công việc khắc phục hậu quả, thời gian để điều tra và lập báo cáo về tai nạn lao động, các chi phí thuốc men ngoài bảo hiểm mà công ty phải đài thọ cho người bị tai nạn, tổn thất của người lao động trong việc khôi phục sức khỏe, tổn thất kinh tế đối với gia đình người bị nạn, chi phí cho thủ tục sự vụ pháp luật, chi phí cho công nhân giải quyết an toàn lao động và sức khỏe nghề nghiệp, thời gian kiểm tra-giám sát, thời gian giải quyết, đền bù bảo hiểm và thuốc men, chi phí để đào tạo người thay việc tạm thời hoặc tuyển CNVH mới, chi phí hót dọn dầu tràn, thay thế cột đỡ MBA, chi phí đền bù cảnh quan, nộp phạt về sai lệch điện áp và tổn thất uy tín đối với cộng đồng xung quanh khu vực sự cố.

Một tình huống như thế này cũng không dễ gì để tính toán hết thiệt hại, và một chủ đề đại loại như thế này thường được né tránh do tính phức tạp của vụ việc cũng như tần suất xảy ra không nhiều. Chỉ có thể nói rằng, chi phí cho kiểu sự cố này thường là lớn, dao động từ hàng trăm ngàn cho tới hàng triệu đô la.

TRỞ LẠI VỚI CÁC CÂN NHẮC VỀ ĐẦU TƯ

Tỷ lệ lợi nhuận do vận hành đem lại có thể thay đổi tùy theo từng công ty và dù thế nào, nó phải được xem xét tới mọi yếu tố liên quan, bao gồm việc cải tiến các thao tác vận hành, chất lượng dịch vụ tốt hơn cho khách hàng, môi trường an toàn hơn và việc bảo vệ môi trường cũng được cải thiện.

Nhiều năm qua, số lượng CNVH đã giảm xuống còn khoảng 110.000 người, tức chỉ còn bằng một nửa so với 20 năm trước đây. Các công ty điện lực được tổ chức lại và sử dụng lực lượng lao động thuê ngoài. Điều đó có nghĩa, các công ty phải tăng cường hiệu quả hoạt động của các tổ CNVH. Những khoản tiết kiệm bổ sung sẽ ngày càng khó đạt được, nó đòi hỏi các công ty (chí ít là đối với các công ty chưa sẵn sàng thực hiện đổi mới) phải thay đổi cấu trúc và quy trình vận hành của họ. Khuynh hướng nâng cao hiệu suất lao động sẽ vẫn tiếp tục ngày càng tăng, trong đó, công cụ phục vụ lao động tốt hơn chính là chìa khóa để đạt tới các mục tiêu kinh doanh.

Sau đây là hai chiến lược bổ sung nhằm tạo dựng một tiến trình liên tục nâng cao năng suất lao động, đặc biệt là trong việc quản lý sự cố mất điện:

Thứ nhất (và ở một mức độ nhất định, nó cũng là bước đầu tiên cần thực hiện) là nâng cao lượng thông tin cần thiết cho các công ty để xử lý tình huống mất điện. Cụ thể, nó bao gồm các thông tin về thời tiết, nơi thường trực của tổ CNVH, danh sách các thiết bị vật liệu sẵn có cũng như các dữ liệu được các hệ thống cung cấp dữ liệu của công ty chuyển đến. Thông tin này sẽ giúp cho việc điều phối từ trung tâm về số lượng cũng như loại hình vật liệu cần thiết được chuẩn xác. Hoạt động dưới một tên gọi mang tính tổng hợp là “Tự động hóa công tác phân phối”, các hệ thống cung cấp loại dữ liệu này bao gồm SCADA, GIS, DMS và quản lý sự cố mất điện. Mỗi công ty điều hành hệ thống này đều có những cách phối hợp khả năng độc đáo của mình, nhưng hết thảy đều có cách xử lý sự cố mất điện giống nhau.

Chiến lược thứ hai tận dụng những cơ hội được tạo ra từ các hệ thống này. Những thông tin đã được tập trung sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều độ mang tính chỉ huy tập trung. Đối với các công ty lớn thì hiệu quả này có thể dẫn đến việc loại bỏ bớt vai trò của các cụm điều độ tại địa phương. Kết cục là có thể giảm được khá nhiều các hoạt động điều phối, các chi phí cho các tiện nghi văn phòng và phí gián tiếp, nhưng các trung tâm điều hành sẽ ít hơn và phân bố rộng hơn.

Tuy nhiên, cách làm này cũng làm tăng thời gian và cự ly di chuyển trung bình của các tổ CNVH. Thực vậy, nguồn lao động lành nghề thường trực bị giảm, đơn giá lao động thực tế (cho thời gian làm việc ngoài thực tế) lại tăng. Hiện nay, tổng chi phí thực tế cho một tổ gồm hai CNVH kèm theo xe tải chuyên dùng có gầu nâng có thể lên đến vài trăm đôla một giờ.

Đối với công ty, ngoài việc phải tập trung nhân vật lực cẩn trọng hơn cũng cần phải tính đến một rủi ro mới. Đó là, nguồn lao động thường trực và vật liệu sẵn có ở mức độ thấp hơn, công ty sẽ có thể phải đối mặt với rủi ro lớn hơn trong trường hợp có những trận bão lớn. Trong tình huống này, có thể coi các bộ IFD như một nguồn thông tin quan trọng giúp nhanh chóng chẩn đoán xác định những điểm sự cố.

Với những công ty đang hướng tới một tương lai tự động hóa mạnh hơn, tập trung cao hơn vào việc nâng cao năng suất lao động và giảm bớt chi phí thì sử dụng các bộ IFD chính là một phần có giá trị trong giải pháp. Theo một cách nhìn khác, các bộ IFD sẽ cung cấp cho các công ty một trong những yêu cầu thông tin phổ cập nhất trong việc quản lý sự cố mất điện.

Theo: EVN

One response to “Phát hiện sự cố máy biến áp phân phối và nâng cao hiệu quả kinh doanh

  1. Pingback: vinamain

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s